(Trans) Đánh giá biến của các liên minh quân sự chính thức (Phần 1 – Giới thiệu, khái quát đề tài)

Vì đây là bài viết trên 1 tạp chí nghiên cứu chuyên sâu có trả phí (bản quyền thuộc Journal of Conflict Resolution) nên bạn khó có thể tìm đầy đủ bày viết ở các trang mạng đại chúng. Nếu có thể, hãy mua bài viết ở đây ủng hộ tác quyền. Trong trường hợp không có điều kiện mua, thì có thể tải tại đây.

Vì bài viết khá dài (~40 trang) nên mình sẽ chia thành nhiều bài nhỏ hơn để tránh rườm rà, nhàm chán.


Tác giả: Brett V.Benson và Joshua D. Clinton

Lời tựa: Nhiều câu hỏi phản biện bao hàm nguyên nhân và kết quả của các liên minh quân sự chính thức (bt – vì trong bài viết này, tác giả chỉ để cập tới những hình thức đồng minh đã được thỏa thuận và quy định qua các hiệp định, hiệp ước chính thức nên mình sẽ lược dịch và viết tắt thành LMQS) đều liên quan đến sự khác biệt giữa các liên minh khác nhau trên nhiều phương diện gồm phạm vi các nghĩa vụ chính thức, chiều sâu của cam kết giữa các bên, và khả năng quân sự tiềm tàng của liên minh. Nghiên cứu nguyên nhân và kết quả của các biến này tương đối khó vì trong khi ta có nhiều chỉ số cho từng đặc điểm khác nhau của hiệp định đồng minh mà các chỉ số này được cho rằng có liên quan tới nhiều khái niệm lý thuyết mở rộng về lợi ích, thì cũng không có gì rõ ràng về việc làm thế nào để sử dụng tập hợp các phương pháp quan sát để mô tả những khái niệm cơ bản mở rộng đó. Chúng tôi (tác giả bài viết) sẽ chỉ ra làm thế nào mô hình đo lường Bayesian có thể được sử dụng để có được các ước tính chi li về phạm vi, chiều sâu và khả năng quân sự tiềm tàng của các LMQS được ký khoảng giữa năm 1816 và 2000. Bài viết sẽ sử dụng những ước tính đó để tìm hiểu  một vài trực quan cốt lõi mà trước đây rất khó để xác định về sự hình thành của các hiệp định đồng minh chính thức, đồng thời cũng kiểm tra tính hợp lý của các phương pháp đo lường đối với những trường hợp điển hình về đồng minh cũng như khám phá những kỳ vọng chung đối với các liên minh lịch sử.


Nghiên cứu về sự hình thành và kết quả của những LMQS là một chương trình nghiên cứu đã trở thành trọng tâm của nhiều đề tài trong quan hệ quốc tế. Các LMQS giúp định nghĩa và định hình bản chất tương tác giữa các quốc gia, và thông qua việc cấu thành các nghĩa vụ quốc tế, chúng giúp xây dựng nên bản chất của hệ thống quốc tế. Việc hiểu biết nhiều hơn không chỉ các cách mà liên minh chính thức thay đổi, mà còn lý giải những biến đổi này vì sao lại xảy ra, là vô cùng quan trọng đối với việc tìm hiểu quan hệ giữa các quốc gia. Dĩ nhiên, nó cũng quan trọng với việc tìm hiểu ảnh hưởng thực tế của những biến này trong hành vi quốc tế.

Các LMQS có rất nhiều điểm khác biệt. Để suy xét những điểm khác biệt, ta lấy ví dụ về hiệp định Pháp – Bỉ năm 1920 và liên minh đa phương giữa Pháp, Nga, Anh và Ý năm 1915. Cả hai đều đề cập đến những nghĩa vụ quốc phòng, trong đó có Pháp là thành viên liên minh, đều nhắm đến một kẻ thù cụ thể, và cùng được ký trong cùng một giai đoạn khá gần nhau. Ngoài những điểm tương đồng này, hai hiệp định trên cũng có nhiều điểm khác. Bên cạnh việc xác định chính xác số lượng quân đội được chỉ định trong những kịch bản giao tranh xác định, hiệp định Pháp – Bỉ công khai yêu cầu hai phía xây dựng một hệ thống phòng thủ kết hợp lực lượng quân sự hai nước, cùng chiếm đóng khu vực Rhineland (một khu vực thuộc Đức nằm dọc theo hạ và trung sông Rhine), và hỗ trợ lẫn nhau về trang thiết bị quân sự. Ngược lại, hiệp định đa phương năm 1915 được ký bí mật trong thời chiến và chỉ bao gồm những nghĩa vụ tấn công và hội ý. Tuy nhiên, những điều khoản chính thức của hiệp định 1915 không miêu tả chi tiết chi phí đề ra bởi các bên tham gia ký kết để tổ chức và tích hợp quân sự.

Vậy làm thế nào chúng ta so sánh được hai liên mình này? Một bên, hiệp định năm 1915 buộc các thành viên đồng minh phải triển khai quân sự trong phần lớn các trường hợp, vì nó bao gồm các cam kết về  can thiệp quân sự trong cả điều kiện phòng thủ và tấn công. Nó cũng có liên quan tới một vài quốc gia tương đối mạnh, coi đó như một nước ký kết. Một bên, hiệp ước Pháp – Bỉ yêu cầu các quốc gia đồng minh phải trả chi phí cao cho để hình thành cam kết bằng việc quy định rằng cả hai bên sẽ tích cực lồng ghép quân sự, cùng đặt chung căn cứ quân sự và cùng phát triển và cung ứng trang thiết bị quân sự cho nhau. Thêm nữa, hiệp định này là một tuyên bố công khai có thể ràng buộc mất mát về danh tiếng của hai nước nếu những nghĩa vụ đồng minh không được tuân thủ. Với quá nhiều điểm khác biệt, kiểm chứng hai hiệp định này cùng lúc, dù bằng cách nào, dường như cũng trở thành một so sánh không liên quan. Liệu có cách đơn giản nào có thể so sánh những đặc điểm khác nhau của các LMQS, giúp chúng ta tìm hiều nguyên nhân, và tác động cũng những khác biệt trọng tâm này?

Chúng tôi tập trung vào hai câu hỏi gợi mở đề tài. Thứ nhất, liệu chúng ta có thể sử dụng những tính năng quan sát của các hiệp định đồng minh và dùng những đặc điểm của chính những nước tham gia ký kết để tạo ra  một đặc trưng chi tiết hơn về điểm khác nhau giữa các liên minh hay không? Thứ hai, liệu chúng ta có thể khám phá các biến giúp nghiên cứu chính trị về hình thành đồng minh hay không? Việc thấu hiểu hơn về sự tự nguyện của các bên ký kết tham gia vào những loại hình đồng minh khác nhau dựa trên điều kiện của nước này và những nước đồng minh khác nhau là vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc không gian quốc tế.

Hướng tiếp cận của nghiên cứu bắt đầu với việc quan sát thấy các liên minh quân sự biến đổi theo nhiều hướng nhất quán. Liên minh biến đổi theo chiều rộng của hoàn cảnh đối với cái mà các nghĩa vụ của đồng minh quân sự đều sẽ có sự áp dụng (sau đây gọi là phạm vi), cũng như biến đổi theo tầm quan trọng của những nghĩa vụ đó đối với cái mà các bên tham gia tự cam kết khi họ tham gia liên minh (sau đây gọi là chiều sâu). Ví dụ, về mặt phạm vi của các nghĩa vụ quân sự nằm trong các điều khoản của hiệp định, những hiệp định đề cập tới mảng tấn công và phòng thủ rõ ràng sẽ rộng hơn các hiệp ước trung lập. Các cam kết phòng thủ định hình kế hoạch quân sự chung cũng như các yêu cầu về hợp tác quân sự trong thời bình, cung cấp viện trợ, và căn cứ quân sự, thì tác động tới chi phí của các thành viên tham gia liên minh sâu hơn những hiệp định chỉ nêu nghĩa vụ phòng thủ. Liên minh cũng biến đổi về khía cạnh sức mạnh quân sự tổng hợp (sau đây gọi là khả năng quân sự tiềm tàng) – những cường quốc đa dạng sức mạnh và có ý thức hệ dường như có nhiều sức mạnh quân sự tiềm tàng hơn một liên minh song phương giữa các nước nhỏ với những ưu tiên chênh lệch.

Việc xác định một loạt các liên minh đang tồn tại, đồng thời kiểm chứng những điều kiện mà các loại hình liên minh khác nhau gần như được tạo thành dựa vào các khía cạnh của phạm vi, chiều sâu và sức mạnh quân sự tiềm tàng của LMQS, là chìa khóa để hiểu hơn về vai trò của các đồng mình quân sự trong việc hình thành hệ thống quốc tế.   Nhiều học giả nhấn mạnh tầm quan trọng của những quan điểm này trong việc định hình và nghiên cứu sự hình thành và kết quả của các LMQS (Snyder 1997; Leeds et al. 2002; Schelling 1966; Benson 2011, 2012; and đăc biệt là Leeds and Anac 2005). Nghiên cứu về những đề tài này thường là kết quả rút ra từ phương pháp đo tỉ mỉ cho từng quan điểm, nhưng đặc tính thực nghiệm của chúng vẫn khá khó nắm bắt dù có vô số thông tin. Điểm khó ở đây bắt nguồn từ khía cạnh đa diện của các đặc điểm của các liên minh này, thứ đòi hỏi đối với bất kỳ đặc điểm nào thì cách tốt nhất là được suy ra từ nhiều thuộc tính có thể quan sát được.

Nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường dữ liệu để tạo ra một khung cơ bản cho việc đánh giá phạm vi, chiều sâu và khả năng quân sự của các LMQS. Về mặt lý thuyết, hướng tiếp cận của chúng tôi cũng tương tự như hướng nghiên cứu của các học giả khác quan tâm tới việc đo lường hệ tư tưởng của các quan chức đắc cử và không đắc cử (e.g., Poole and Rosenthal 1997; Martin and Quinn 2002; Clinton, Jackman, and Rivers 2004), vị trí của đảng phái chính trị trong không gian chính sách cơ bản (Budge et al. 2001), hệ tư tưởng của các hạt bầu cử ở Mỹ (Levendusky, Pope, and Jackman 2008), mức độ nào quốc gia đạt được dân chủ (Pemstein, Meserve, and Melton 2010), vị trí của quốc gia trong Đại Hội đồng Liên Hợp quốc (Voeten 2000), hoặc chiều sâu của các hiệp định thương mại ưu đãi (Dur et al. 2014).

Hướng tiếp cận này cũng tạo nên một vài đóng góp. Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ ra làm thế nào mô hình đặc điểm tiềm ẩn Bayesian (Quinn 2004) có thể khôi phục được một ước tính đa chiều và mang tính lý thuyết về các biến của liên minh ảnh hưởng tới phạm vi, chiều sâu, và năng lực quân sự tiềm tàng của LMQS đồng thời cũng định lượng lại những điểm không chắc chắn đáng kể mà vài lần chúng tôi đã nghi ngờ về những ước tính đã có trước đấy (Jackman 2009b). Chúng tôi cũng xác định làm thế nào để những đo lường này định lượng được ảnh hưởng của các đặc điểm khác nhau, và dựa vào những đặc điểm liên minh cụ thể có thể quan sát được, cho phép chúng ta phân biệt các liên minh ở các nhóm phân loại lớn mà trước đây các học giả chưa thể gỡ rối ( ví dụ, đánh đồng “liên minh tấn công” với những phạm vi mở rộng  của cam kết).

Bằng việc chứng thực phương pháp đo lường sử dụng các thông tin định tính và định lượng, nghiên cứu cũng có thể xác nhận một vài những kết luận độc lập quan trọng về lý thuyết hình thành đồng minh. Chúng tôi chứng minh rằng các khái niệm về phạm vi, chiều sâu và sức mạnh quân sự tiềm tàng của LMQS là những phương pháp đo khác biệt và có ý nghĩa. Chúng cũng nhấn mạnh rằng phương pháp đo về các đồng minh lớn là thực sự phù hợp với những kỳ vọng hiện tại, và chỉ ra rằng làm thế nào các liên minh nổi bật về điều hành hoạt động có thể đưa ra dẫn chứng về việc “cân bằng” các phương diện về cả sức mạnh quân sự tiềm tàng của các bên liên quan lẫn phạm vi và chiều sâu của các cam kết hiệp ước chính thức.

Nhóm nghiên cứu cũng thấy rằng, dù không phải tất cả, thì nhiều đồng minh ngoại lệ ở một khía cạnh nào đó thì luôn ít hơn những đồng minh khác. Điều này cho thâý những thỏa thuận có ý nghĩa thường liên quan tới những hiệp định đồng minh được quy định sâu và rộng hơn. Ví dụ, những bên tham gia ký kết tương đối yếu đôi khi có thể mong muốn được gia tăng sức mạnh đồng minh bằng những điều kiện hiệp ước sâu hơn được tạo ra để mở rộng sức mạnh tổng hợp thông qua việc hợp tác quân sự thời bình và đẩy lùi những nghĩa vụ thời chiến tốn nhiều chi phí, nhưng các nước tham gia có sức mạnh quân sự lớn hơn có thể muốn ngăn chặn sự tiếp cận của các nước đồng minh khác đối với khả năng phối hợp của liên minh bằng việc tạo ra các điều kiện giới hạn can thiệp quân sự hay khiến các điều kiện này ít tốn kém hơn để dễ dàng thoát khỏi hiệp định.

Cuối cùng, nhóm nghiên cứu sử dụng cách đo lường này để phân tích các điều kiện hình thành của LMQS. Chúng tôi kiểm tra liệu các yếu tố được dự đoán ảnh hưởng tới phạm vi và chiêu sâu của liên minh mà chúng được hình thành từ đầu có cùng biến đổi như mong đợi. Phân tích này không chỉ giúp  xác nhận tính pháp lý của các phương pháp đo mà chúng tôi khôi phục, mà còn đóng góp vào hiểu biết chung về việc hình thành liên minh. Trong khi những nghiên cứu thực nghiệm sẵn có thường buộc phải sử dụng những thông tin thô chứ không phải là những đặc điểm đồng minh liên quan, thì mô hình đo lường chúng tôi đưa ra lại tóm tắt được các thông tin bao hàm trong nhiều phương pháp đo lường khác, và nhờ vậy, tạo ra đặc điểm mang tính sắc thái hơn về cách mà các hiện định quân sự có thể biến đổi.

Phần tiếp: Khái quát về các biến của đồng minh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s