(Trans) Nhìn nhận lại Chiến tranh Iraq

Link: https://www.project-syndicate.org/commentary/chilcot-report-iraq-war-lessons-by-richard-n–haass-2016-07

Tác giả: Richard N.Haass

NEW YORK – Bảy năm, 12 chương về dẫn chứng, phát hiện và kết luận, và theo sau đó là một bản tóm tắt, Báo cáo về Điều tra tại Iraq, thường được gọi là Báo cáo Chilcot (được đặt theo tên chủ biên, Ngài John Chilcot), nay đã được công bố rộng rãi. Một vài người có thể đọc lướt qua tất cả, nhưng riêng bản báo cáo (tầm hơn 100 trang) thì lại quá dài nên bản thân nó cũng cần được tóm tắt lại.

Nhưng cũng thật đáng xấu hổ nếu bản Báo cáo không được nhiều người đọc và, quan trọng hơn là, được nghiên cứu, vì nó bao hàm những nhìn nhận hữu ích về việc ngoại giao được thực hành như thế nào, chính sách được tạo ra bằng cách nào, và quyết định thì được đưa ra ra sao. Nó cũng nhắc chúng ta về trọng tâm của quyết định xâm lược Iraq năm 2003, và về hậu quả của nó, đối với việc tìm hiểu Trung Đông hiện tại.

Nội dung chính của bản Báo cáo là việc Chiến tranh Iraq đáng lẽ không phải xảy ra, và chắc chắn không phải dù nó đã diễn ra. Quyết định tiến hành cuộc chiến một phần dựa trên thông tin tình báo sai lầm. Iraq bất quá chỉ là tập hợp một mối đe dọa tập trung, chứ không phải một sự đe dọa có khả năng xảy ra. Xen lẫn việc sử dụng sức mạnh quân sự – thì trên hết, gia tăng sự ép buộc mù quáng của Jordan và Thổ Nhĩ Kỹ, và ủng hộ của những nước này cho  lệnh trừng phạt của Liên Hợp quốc nhằm gây áp lực cho Saddam Hussein – cũng gần như được khai thác. Công tác ngoại giao đã được thúc giục nhanh chóng.

Điều khiến cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn là cuộc chiến được tiến hành mà không hề có việc lập kế hoạch thỏa đáng và sự chuẩn bị cho những gì diễn ra sau đó. Như bản Báo cáo chỉ ra rõ ràng, nhiều nhân vật trong cả chính trường Anh và Mỹ dự đoán sự hỗn loạn sẽ gia tăng nếu chính sách bàn tay sắt của Saddam bị dỡ bỏ. Những quyết định giải tán quân đội Iraq và cấm tất cả các thành viên của Đảng Saddam’s Ba’ath (hơn là việc chỉ cấm vài người lãnh đạo đảng) nắm nhiều chức vụ trong chính quyền kế nhiệm là những sai lầm vô cùng lớn. Iraq không chỉ là một cuộc chiến về việc lựa chọn, mà nó thực sự là chính sách thiếu khôn ngoan và kém thực thi.

Phần nhiều trong bản Báo cáo đề cập tới những đánh giá của Anh và sau đó là – sự ủng hộ của Thủ tưởng Tony Blair với chính sách của Mỹ. Quyết định liên minh giữa Anh và Mỹ là sự lựa chọn quân sự chiến lược với một nước nhỏ hơn, phần nhiều được xuất phát từ ảnh hưởng của mối quan hệ song phương vô cùng thân thiết của hai nước. Điều chính quyền Blair nhận sai lầm là đã không cố gắng gây ảnh hưởng tới chính sách như là một sự ủng hộ từ nước này. Chính quyền của George W. Bush có thể sẽ từ chối những nỗ lực cố gắng như vậy, nhưng chính quyền Anh sau rồi cũng có thể tiến hành lựa chọn tách mình dần khỏi chính sách mà nhiều người tin rằng nó khó có khả năng thành công.

Nhiều bài học cần được rút ra từ Chiến tranh Iraq. Một trong số đó là, vì cơ bản những nhận định gây hưởng tới việc những nhà phân tích có thể phán đoán gì khi họ nhìn vào thông tin tình báo, những nhận định sai lầm có thể dẫn tới những chính sách sai lầm nghiêm trọng. Gần như tất cả đều cho rằng sự bất hợp tác của Saddam đối với các thanh tra Liên Hợp quốc bắt nguồn từ chi tiết ông ta đang che dấu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Thực tế là, ông ta che giấu việc mình chẳng hề có thứ vũ khí như vậy.

Tương tự như vậy, trước khi bắt đầu cuộc chiến, rất nhiều nhà chính sách tin rằng dân chủ có thể nhanh chóng đạt được một khi Saddam biến mất. Việc đảm bảo những nhận định tự đắc và quan trọng như vật đã được kiểm chứng bởi “đội đỏ” – những người không ủng hộ cho chính sách liên quan tới việc nên thực hiện quy trình hoạt động chuẩn mực.

Thực tế là loại bỏ chính phủ, cũng khó là việc có thể tạo ra nó, thì gần như không khó bằng việc tạo ra an toàn mà một chính quyền mới cần để củng cố quyền lực và xây dựng tính hợp pháp trong mắt công chúng. Việc tạo ra bất kỳ thứ gì kiểu như dân chủ trong xã hội vắng bóng những điều kiện tiên quyết cơ bản nhất là một nhiệm vụ kéo dài cả thập kỷ, chứ không thể chỉ bằng vài tháng.

Báo cáo ít nhiều đã đề cập tới những hệ quả của Chiến tranh Iraq, nhưng lại cần thiết phải xem xét. Trước hết, chiến tranh đã phá vỡ sự cân bằng quyền lực trong khu vực. Khi không còn ở vị trí để cần bằng và đối trọng với Iran, Iraq thay vào đó lại bị chịu sự ảnh hưởng của quốc gia này. Iran được tự do không chỉ phát triển chương trình hạt nhân có ý nghĩa, mà còn can thiệp trực tiếp và thông qua một số kênh khác vào nhiều quốc gia. Giao chiến phe phái đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mối quan hệ của người Sunni và Shia khắp khu vực. Sự ghét bỏ những sĩ quan và nhân viên của quân đội bị giải tán dưới thới Saddam đã thúc đẩy sự nổi dậy của người Sunni và, cuối cùng, dẫn đến sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo tự xưng.

Cuộc chiến đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới không chỉ Iraq và Trung Đông, mà còn cả với Anh và Mỹ. Quốc hội Anh bỏ phiếu năm 2013 chống lại sự tham gia của mọi nỗ lực quân sự để trừng phạt Tổng thống Syria Bashar al-Assad bởi chống lại những cảnh báo rõ ràng về việc không sử dụng vũ khí hóa học trong nội chiến ở quốc gia này chắc chắn có liên quan tới quan điểm rằng can thiệp quân sự ở Iraq là một sai lầm. Một vài nghi ngờ trong giới thượng lưu rằng việc đa số  bỏ phiếu ủng hộ “Brexit” được bắt nguồn từ những bài học về Chiến tranh Iraq cũng là rất có khả năng.

Chiến tranh Iraq và hệ quả của nó tương tự cũng ảnh hưởng tới suy nghĩ của chính quyền Tổng thống Mỹ Barack Obama, khi mà chính quyền này ít hứng thú với liên quân mới ở Trung Đông vào thời điểm mà nhiều người Mỹ cảm thấy “mệt mỏi khi can thiệp”.

Dĩ nhiên, điều nguy hiểm là những hành động này có thể bị lặp lại quá nhiều lần. Bài học từ Chiến tranh Iraq không nên là mọi sự can thiệp vũ trang ở Trung Đông hay bất cứ nơi nào khác nên tránh, mà hơn hết là những hành động này chỉ nên được thực hiện khi chúng là những chiến lực khả dĩ nhất và khi kết quả dường như có thể hợp lý với chi phí bỏ ra. Libya là sự can thiệp gần đây đã vi phạm nguyên tắc này; Syria thậm chí còn tốn kém hơn nhiều, nhưng trong trường hợp này mọi thứ đều chưa diễn ra.

Chiến tranh Iraq đã đủ tốn kém mà không có ai học được những bài học sai lầm từ đó. Đó sẽ chỉ là sự trớ trêu cuối cùng – và như đổ thêm dầu vào lửa mà thôi.

Về tác giả: Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ đối ngoại, trước đây từng là Giám đốc Hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao Mỹ (2001-2003), và là đặc phái viên của Tổng thống George W. Bush tại Bắc Ireland và điều phối viên cho chiến dịch Future of Afghanistan. Cuốn sách sắp ra mắt của ông làA World in Disarray.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s