Lảm nhảm lik tik 10 – Lại bàn về giáo dục

Một trong những điểm nhỏ tạo nên sự khác biệt trong giáo dục phương Tây và Việt Nam là việc tiếp cận nguồn thông tin. Ngoài hệ thống thư viện truy cập và tìm kiếm online thì sinh viên còn có thể truy cập vào dữ liệu của các site khoa học và tải ebook bản quyền. Việc này không những mở rộng vùng thông tin cho sinh viên, mà còn cho phép sinh viên được tự do và chủ động trong việc tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tự so sánh, phán đoán và phân tích quan điểm của mình. Trong khi đó tại Việt Nam, sinh viên chủ yếu chỉ được tiếp cận với những đầu sách có trong thư viện trường, thành phố hoặc quốc gia. Nguồn thông tin nếu không muốn nói 1 cách châm biếm rằng, chỉ như hạt cát. Tôi xin phép chỉ ra một vài điểm yếu trong hệ thống thông tin tại trường học và các trường đại học:
– Thứ nhất, ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng trong các văn bản, báo chí và sách của thư viện nước mình vẫn chủ yếu là văn bản tiếng Việt. các văn bản tiếng Anh thường không phong phú, nhìn chung sẽ có 3 loại: truyện thiếu nhi, sách lịch sử và sách dạy tiếng Anh. Trong thời đại công nghệ thông tin, khả năng đọc của con người có thể nói là đã giảm nhiều so với nhiều thế kỷ trước, 1 phần vì thời gian hối hả của công việc, 1 phần các thể loại báo chí văn học hiện đại thường quy về lối viết tối giản gọn nhẹ phù hợp với nhiều đối tượng người đọc (tiểu thuyết dày đã không còn chiếm ưu thế mà thay vào đó là tạp văn, truyện ngắn, tản văn; truyện dài sẽ được đăng dần từng chương rồi khi đánh giá rating lượng người đọc mới được suy xét kỹ lưỡng để xuất bản thành quyển dày). Vậy thì những đầu sách tiếng Anh dày cộp kia có thực sự thu hút đối với sinh viên? Câu trả lời có lẽ là không bởi cơ bản xu hướng sẽ là “Nhìn vào là ngán”. Cũng không thể nói rằng tại các thư viện phương Tây sẽ có nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh (trừ 1 vài trường hợp thư viện đặc biệt), vậy thì chỉ có tiếng Việt thì có gì sai? Vấn đề ở đây là hầu như các văn bản mang tính chất học thuật nghiên cứu có giá trị bây giờ đều tồn tại ở dạng ngôn ngữ này là chính. Các văn bản ký tự Latin cũng được dịch ra hầu hết dưới dạng ngôn ngữ này. Bao nhiêu phần trăm số sách tiếng Việt được dịch sang tiếng Anh? Thêm nữa, vì là sách tiếng Việt nên những đầu sách mới thường được các thư viện cập nhật chậm chạp. Các tạp chí chuyên ngành thì được tiếp nhận thụ động, không chọn lọc (đặt kỳ, quý, tháng, không cần biết tạp chí có thực sự hiệu quả). Trong cuộc sống hiện đại mà mọi thứ đều thay đổi từng giây, liệu những đầu sách kia có kịp cập nhật??? Bên cạnh đó, vì không thể bổ sung những nguồn sách tiếng Anh mang tính đặc thù ngành mà hầu như tiếng Anh của chúng ta sẽ dừng ở mức thi chứng chỉ mà thôi. Lại rơi vào 1 bể cạn của tri thức. Tôi vẫn nhớ ngày xưa mình trầy trật thi thố tiếng Anh ở trường đại học ntn. Không phải vì không đọc, mà bởi vì tôi không xây dựng nó thành 1 thói quen cố hữu mà luôn cố gắng tìm hiểu mọi vấn đề trước bằng tiếng Việt. Thật đáng buồn là vì vậy mà tiếng Anh của tôi mới thực sự ngu xuẩn làm sao!
– Thứ hai, để có được 1 bài viết thực sự có giá trị thì chúng ta đều thống nhất rằng, việc thu thập thông tin nhất định phải dựa vào nguồn chính thống. Liên quan tới điều 1, nếu nguồn chính thống không đủ sức truyền tải giá trị thực tiễn thì nó sẽ có giá trị là bao nhiều phần trăm?!? Lúc này, câu trả lời cho hầu hết sinh viên Việt nam sẽ là từ tìm hiểu qua mạng, qua ebook trên mạng. Thông tin ở đây sẽ có đủ các thể loại và đặc biệt là nguồn thứ ba. Việc tìm hiểu từ nhiều nguồn không phải là xấu, nhưng sự tối kỵ trong việc lệch lạc quan điểm từ nhiều nguồn có thể sản sinh ra những con người xấu. Tôi còn nhớ rất rõ, khi còn học đại học, tôi có nói với 1 giáo viên của mình rằng em tìm hiểu thông tin này từ nguồn thứ 3. Giảng viên của tôi đã không nói gì cả mà chỉ cười ngượng ngịu. Giờ đây khi nghĩ lại, tôi thật sự vẫn cảm thấy hối tiếc cho khóa chúng tôi và những khóa cô ấy từng dạy. Vì quan điểm của tôi là, người thầy không thể chỉ ra cho học sinh, sinh viên của mình chân lý và giá trị của sự thật, chỉ dám trốn tránh thì có giá trị nào mà người thầy có thể mang lại đây. Sinh viên Việt Nam có khả năng tự thân vận động rất tốt. Vậy nên mới có thể sản sinh ra nhiều người tài trên những đất nước xa lạ với sự hướng dẫn vừa ủng hộ tinh thần cá nhân, vừa hướng bản thân sinh viên vào giá trị thực của khoa học. Và khi họ thật sự nhận ra những gì đã hủy hoại quãng đời tuổi trẻ của họ thì mấy người thực sự muốn quay về? Tôi không xét thời những thành phần không trở về vì lí do kinh tế vì tôi chắc chắn rằng ở thời điểm nào đó của tuổi già, khi kinh tế đã vững, họ sẽ lại nhớ về quê hương. Những người tôi muốn nói, thực sự không muốn về là những người đã mất đi mọi sự hy vọng ở quê hương kia.
– Thứ ba, vấn đề này có thể vô cùng nhạy cảm, đó là sự ưu tiên giáo dục của chính phủ. Theo số liệu năm 2012, chúng ta đã bỏ ra hơn 5800 tỷ đồng cho giáo dục (và có thể con số là hơn thế, nhưng ai biết?). Trong khi đó, việc xây dựng 1 trụ sở bộ lại có giá đến nghìn tỷ. Sinh mệnh của quốc gia nằm ở tri thức của thế hệ trẻ, nếu được đầu tư xứng đáng. Nhưng chúng ta đã và đang làm được gì cho giới trẻ hôm nay chứ? Sinh viên tại nhiều quốc gia phương Tây họ không phải đóng tiền đi học đại học (tất nhiên, phần này sẽ được trừ vào thuế của cả cuộc đời, cũng công bằng phải không? Tư bản không từ bỏ cả máu, đó là chân lý). Việc họ được tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn đã được nhà nước đảm bảo về mặt ngân sách – thứ đầu tiên vô cùng quan trọng. Tiền nuôi sống cả tri thức. Tại Việt Nam, một quốc gia đang phát triển như chúng ta sẽ không thể đòi hỏi 4 năm học miễn phí được, điều đó là có hại cho đất nước. Đúng, nhưng chúng ta lại không tạo được điều kiện cho sinh viên học hỏi những cái mới, thì đó là tại chúng ta sai. Một cô gái sẽ yêu 1 chàng trai nghèo khi ở giai đoạn đầu của tình yêu. Nhưng 1 khi đến bước quyết định hôn nhân, anh ta vẫn nghèo thì 1 cô gái thông minh sẽ không chọn anh ta. Em không bỏ anh vì nghèo mà bởi vì anh không đủ cố gắng để thoát được cái nghèo của chính anh. Câu chuyện này cũng như số phận của thế hệ chúng ta vậy. Anh có thể đầu tư vào kinh tế nhưng giáo dục thì anh bỏ ngỏ, vậy thì nền tảng xây dựng kinh tế lâu dài anh sẽ dựa vào đâu? 10 năm 20 năm ai biết được kinh tế sẽ ntn, ta có thể dùng tiền mua được tương lai ngắn hạn, nhưng về dài hạn tiền không thể làm nên bộ não con người được.
– Thứ tư, kiểm soát thông tin. Ở nước ta, việc kiểm duyệt thông tin dựa trên sự bảo vệ thông tin chính phủ. Cái này không bàn tới sai hay đúng nhưng một điều nó không thể xây dựng được đó là sự ý thức về chủ nghĩa cá nhân. Một người khi có nhu cầu học cái mới, cái cần thiết cho anh ta là sự tự do tiếp cận tri thức và sau đó là sự định hướng lâu dài từ nhiều yếu tố. Nhưng trong trường hợp của nhiều sinh viên Việt Nam, chúng ta hầu như chỉ tiếp nhận thông tin 1 cách thụ động, 1 chiều. Chúng ta sẽ quên đi rằng, chúng ta thật sự cần gì. Nhà nước cho gì, ta có nấy. Ví dụ như thế này, vụ việc biên giới của ta và Trung Quốc được quốc tế nhìn nhận ra sao hay nền kinh tế, chính trị của Việt Nam được đánh giá như thế nào? Tại Việt Nam, tôi chắc chắn chúng ta chỉ có thể đọc được trên báo, cùng lắm là các site tiếng Anh điển hình. Và rất khó tiếp cận với văn bản nghiên cứu một cách khoa học. Lúc này, lại nảy sinh tới vấn đề bản quyền. Vì rằng chúng ta bị hạn chế cả về tiền lẫn giới hạn chính trị, nên cơ bản là, với sinh viên sẽ là crack, ăn cắp file trên mạng. Mà đơn giản thì chúng ta, những sinh viên được học về bản quyền 1 cách mù mờ qua phương tiện thông tin đại chúng, dễ dàng cho đó là đương nhiên, và giáo viên cũng vì lực bất tòng tâm mà không thể làm gì. Tôi nhớ có vài bài báo gần đây chỉ trích giáo viên tại sao không mở rộng cơ hội cho học sinh tiểu học viết tự do, đừng khuôn mẫu thì đâu có sinh ra 1 thế hệ như chúng tôi chỉ biết đạo văn, sao chép. Vâng, câu trả lời là không thể đổ lỗi lên giáo viên được. Đó là sai lầm của hệ thống sư phạm và giáo dục mà thôi.
Những điều tôi viết ra trên đây chỉ là một phần nhỏ trong suy nghĩ của mình. Tôi chợt nghĩ đến những điều này khi đang tìm tài liệu viết luận văn của mình và thực sự cảm thấy bàng hoàng quá. Giờ nghĩ lại, cảm giác sợ phải đối mặt với chính tôi trong 4 năm đại học thật quá khắc nghiệt. Tôi không thể nghĩ mình đã lãng phí 4 năm cuộc đời vì cái gì, vì ai nữa. Một thế hệ như chúng tôi, vẫn có thể kiếm tiền vẫn có thể làm giàu cho quốc gia. Nhưng mấy người sẽ thực sự làm cho nước ta thay đổi chứ? Tôi có thể đã nghĩ đến những thứ quá xa rồi. Chỉ một cá nhân như tôi thì không thể làm được gì, cũng không thể phán xét cả xã hội đã bao bọc tôi được. Chỉ là mỗi khi như thế này, cảm giác trở về càng khiến tôi cảm thấy sợ hãi tột cùng. Nhưng như một con người bình thường, khi đã từ bỏ sự hy vọng ở 1 thứ vô vọng, người ta sẽ buông xuôi mà thôi.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s